Các thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể của đá ngọc

TCDN Thành phân hóa học của đá ngọc được thể hiện bằng công thức hóa học tạo nên đá ngọc.

Ví dụ: corindron là khoáng vật có công thức là Al2O3. Công thức này có nghĩa là hai cation Alliên kết hóa học với ba anion O2-tạo nên. Ở trạng thái tinh khiết, carinodon Al2O3 không màu. Nhưng nếu hợp chất Al2O3 có lẫn các chất tạo màu thì nó sẽ có tên gọi khác nhau tùy theo chất vi lượng tạo màu. Hợp chất Al2O3 có lẫn vi lượng Cr sẽ tạo thành màu đỏ mang tên Ruby, có lẫn vi lượng Fe và Ti tạo thành màu xanh lam có tên gọi là saphir.

Hồng bảo ngọc (Ruby) mỏ lục yên
Hồng bảo ngọc (Ruby) mỏ lục yên

 

Lam bảo ngọc (Saphir) mỏ Di Linh
Lam bảo ngọc (Saphir) mỏ Di Linh

 

Thành phần hóa học có ảnh hưởng đến tính chất vật lí của đá ngọc. Thể hiện rõ nhất là độ bền của chúng.

Các đá và khoáng vật oxyt thường là bền vững với các tác dụng hóa học như: Thạch anh (SiO2), khoáng vật corindon (Al2O3), spinel (MgAl2O4

Spinel Blue
Spinel Blue

 

Tinh đám thạch anh (Quart) vùng Bảo lộc
Tinh đám thạch anh (Quart) vùng Bảo lộc

 

Các đá silicat rất cứng và bền vững, như: Hoàng ngọc (topaz), lãm ngọc (peridot), ngọc thạch (jade)...

Peridot (Lãm ngọc) ở Brasil
Peridot (Lãm ngọc) ở Brasil

 

Ngọc thạch (Jade) Canada
Ngọc thạch (Jade) Canada

 

Các đá carbonat thường mềm và dễ bị các axit tác dụng, như: Malachit (Cu2(OH)2CO3). azurit (2CuCO3.Cu(OH)2..

Khoáng vật malachit mài bóng
Khoáng vật malachit mài bóng

 

Mặt đá ngọc azurit thành phẩm
Mặt đá ngọc azurit thành phẩm

 

Thành phần hóa học giúp ta hiểu biết bẩn chất của đá ngọc, nhưng trong thực tế người ta giám định đá ngọc bằng phân tích hóa học vì đòi hỏi phải phá hủy mẫu, mà phải dùng các phương pháp hiện đại đắt tiền hơn nhiều.

Cấu trúc tinh thể của đá ngọc 
Hầu hết các khoáng vật đá ngọc đều là các chất kết tinh, trong các nguyên tử và phân tửa sắp xếp theo một cấu trúc không gian ba chiều dối xứng và có trật tự.
Như đã trình bày ở trên, đến nay các nhà khoa học trên thế giới đã xác định được trong và trên vỏ Trái Đất có khoảng 5.000 khoáng vật. Dù được hình thành trong các điều kiện rất khác nhau, ở các thời điểm khác nhau tới trăm triệu, hàng tỉ năm nhưng đều kết tinh trong khuôn khổ chỉ có bảy hện tinh thể.

Các nhà khoa học đã xếp các tinh thể khoáng vật thành bảy hệ với các đặc điểm sau:

a. Hệ lập phương (Cubic)
Trong hệ lập phương, các hình thường gặp là khối lập phương, hình tám nặm hình mười hai mặt thoi...

Hình 8 mặt và 12 mặt thoi của kim cương
Hình 8 mặt và 12 mặt thoi của kim cương

 

Kim cương song tinh ở Nam Phi
Kim cương song tinh ở Nam Phi

 

b. Hệ sáu mặt (Hexagonal)
Còn gọi là hệ lục lăng. Những hình thường gặp là lăng trụ sáu phương, tháp đôi sáu phương và hỗ hợp của chúng

Tinh thể nhóm beryl hệ sáu phương
Tinh thể nhóm beryl hệ sáu phương

 

Ngọc lục bảo (Emerald - Nhóm beryl)
Ngọc lục bảo (Emerald - Nhóm beryl)

 

c. Hệ bốn phương (Tetragonal)

Tinh thể hệ bốn phương
Tinh thể hệ bốn phương

 

Tinh thể đá lưu ly
Tinh thể đá lưu ly

 

d. Hệ ba phương (Trigonal)
Những hình hay gặp là tháp đôi ba phương, hình khối bình hành và hỗn hợp

Tinh thể hệ ba phương
Tinh thể hệ ba phương

 

Tourmalin mỏ An Phú (Lục Yên - Yên Bái)
Tourmalin mỏ An Phú (Lục Yên - Yên Bái)

 

e. Hệ trục thoi (Orthorhombic)
Những hình hay gặp là lăng trụ trực thoi, tháp đôi trực thoi và hỗ hợp

Tinh thể hệ trực thoi
Tinh thể hệ trực thoi

 

Tinh thể hoàng ngọc (Topaz) ở Bảo lộc (Lâm Đồng)
Tinh thể hoàng ngọc (Topaz) ở Bảo lộc (Lâm Đồng)

 f. Hệ một nghiêng (Monoclinic)

Tinh thể Orthoclaz hệ một nghiêng
Tinh thể Orthoclaz hệ một nghiêng

 

Orthoclaz
Orthoclaz

 

g. Hệ ba nghiêng (Triclinic)
Còn gọi là hệ tam tà. Dạng hay gặp là lăng trụ kết hợp với các hình hai mặt

Tinh thể hệ ba nghiêng
Tinh thể hệ ba nghiêng

 

Rhodont ở mở San Martin, Peru
Rhodont ở mở San Martin, Peru

 

 

 

 

tapchidoanhnghiep.vn

Ý kiến của bạn